59. Sớ Giới Đàn

(Yếu Đăng Giác Ngạn)

 

Nguyên văn:

 

伏以

要登覺岸、須憑六度以熏修、必仗明師、廣演三壇而受戒、欲傳妙道、無越出家。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、本寺奉

佛修香諷經...事。今弟子...等、日焚香、心誠拜干

金相光中、俯垂炤鑒。言念、弟子等、生居華夏、得聞敎法之言、幸遇明師、獲覩傳持之戒、克己復禮、受三皈於我

佛臺前、率性至誠、持具戒於尊師言下。茲者...伏願、戒壇和尚、常爲苦海之津梁、剃度沙彌、永作法門之石柱、合堂清衆、均求洪休。實賴佛恩証明之加惠也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時弟子眾等和南上疏

(疏)奉白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Yếu đăng giác ngạn,1 tu bằng Lục Độ dĩ huân tu; tất trượng minh sư, quảng diễn Tam Đàn2 nhi thọ giới; dục truyền diệu đạo, vô việt xuất gia.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, bổn tự phụng Phật tu hương phúng kinh … sự. Kim đệ tử … đẳng, tức nhật phần hương, tâm thành bái can, kim tướng quang trung, phủ thùy chiếu giám.

Ngôn niệm: Đệ tử đẳng, sanh cư Hoa Hạ,3 đắc văn giáo pháp chi ngôn; hạnh ngộ minh sư, hoạch đỗ truyền trì chi giới; khắc kỷ phục lễ, thọ Tam Quy ư ngã Phật đài tiền; suất tánh chí thành, trì cụ giới ư tôn sư ngôn hạ. Tư giả …

Phục nguyện: Giới đàn Hòa Thượng,4 thường vi khổ hải chi tân lương; thế độ Sa Di,5 vĩnh tác pháp môn chi thạch trụ; hợp đường thanh chúng, quân cầu hồng hưu. Thật lại Phật ân chứng minh chi gia huệ dã. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Cần lên bờ giác, nên nương Lục Độ để chuyên tu; tất nhờ minh sư, rộng diễn Ba Đàn mà thọ giới; muốn truyền diệu pháp, cần phải xuất gia.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có chùa thờ Phật, dâng hương tụng kinh … Nay đệ tử …, ngày nầy dâng hương, tâm thành trăm lạy, tướng vàng chói sáng, xót thương chứng giám.

Nép nghĩ: Đệ tử chúng con, sanh chốn Hoa Hạ, được nghe giáo pháp ngôn từ; may gặp minh sư, lại được truyền trao giới pháp; khắc kỷ nhận lễ, thọ Tam Quy nơi trước Phật đài; dốc tánh chí thành, giữ cụ giới theo lời thầy chỉ dạy. Nay …

Lại nguyện: Giới đàn Hòa Thượng, thường làm biển khổ cầu bắt qua; xuất gia Sa Di, mãi là pháp môn bao trụ đá; toàn thể đại chúng, thảy cầu hồng ân. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh ban ân huệ. Kính dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con kính thành dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Giác ngạn (覺岸): bờ bên kia của giác ngộ, tức cảnh giới của Phật. Như trong Pháp Hoa Kinh Huyền Tán Quyết Trạch Ký (法華經玄贊決擇記, CBETA No. 637) có giải thích rằng: “Giác ngạn giả, Phật quả dã; nhiên Phật thuyết pháp, vọng linh chúng sanh tất cánh ly thử sanh tử khổ tân, chung cứu đăng vu Phật quả bỉ ngạn (覺岸者佛果也然佛說法望令眾生畢竟離此生死苦津終究登于佛果彼岸, bờ giác là quả Phật; vì vậy đức Phật thuyết pháp, khiến cho chúng sanh rốt cuộc xa lìa bến bờ khổ sanh tử, cuối cùng lên quả Phật bờ bên kia).” Trong Luật Yếu Hậu Tập (律要後集, CBETA No. 1124) có đoạn: “Mạng chung chi hậu, sanh chư Phật tiền, chứng bất tư nghì, giải thoát cảnh giới, phổ năng du hý, xuất nhập trần lao, tận độ mê lưu, đồng đăng giác ngạn, hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng, quy mạng đảnh lễ, nhất thiết Tam Bảo (命終之後生諸佛前證不思議解脫境界普能遊戲出入塵勞盡度迷流同登覺岸虛空有盡我願無窮歸命頂禮一切三寶, sau khi mạng hết, sanh trước chư Phật, chứng không nghĩ bàn, giải thoát cảnh giới, vui chơi cùng khắp, ra vào trần lao, độ khắp dòng mê, cùng lên bờ giác, hư không có tận, nguyện con không cùng, quy mạng đảnh lễ, hết thảy Tam Bảo).”
  2. Tam Đàn (三壇): tức Tam Đàn Đại Giới (三壇大戒), là nghi thức thọ giới đặc biệt, phân thành 3 giai đoạn là Sơ Đàn Chánh Thọ (正授), Nhị Đàn Chánh Thọ (正授) và Tam Đàn Chánh Thọ (正授). Đàn đầu tiên thọ giới Sa Di (s: śrāmaera, p: sāmaera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaerikā, p: sāmaerā, sāmaerī, 沙彌尼); đàn thứ hai thọ giới Tỳ Kheo (s: bhiku, p: bhikkhu, 比丘) và Tỳ Kheo Ni (s: bhikuī, p: bhikkhunī, 比丘尼); đàn thứ ba thọ giới Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩). Như trong Truyền Giới Chánh Phạm (傳戒正範, CBETA No. 1128) có câu: “Tam Đàn quỹ tắc, cự tế hữu điều, thất chúng khoa nghi, tinh tường bất vặn (三壇軌則巨細有條七眾科儀精詳不紊, Ba Đàn nguyên tắc, lớn nhỏ có điều, Bảy Chúng khoa nghi, rõ ràng không rối).”
  3. Hoa Hạ (華夏): từ người Trung Quốc tự hào về đất nước mình và tự xưng như vậy, có nghĩa là đất nước to lớn, phát triển văn minh rực rỡ. Có truyền thuyết cho rằng Thủy Quan Đại Đế nguyên là vua Vũ (), nhờ có công lao trị thủy, nên được phong làm chức nầy. Vũ là con của vua Cổn (), dưới thời vua Nghiêu () trị thủy trong 9 năm trường mà vẫn không có kết quả, sau sai Vũ thay thế và trãi qua 13 năm thì thành công. Ông đặt quốc hiệu là Hạ (), vì vậy Trung Quốc có tên gọi khác là Hoa Hạ (華夏). Như trong Thích Môn Chánh Thống (釋門正統, CBETA No. 1513) quyển 4 có câu: “Ngã Tống nhân như thiên, thần võ nhi bất sát, Hoa Hạ cập man mạch, thai noãn kị hóa thấp, giai quy háo sanh đức, duy khủng nhất vật thất (我宋仁如天神武而不殺華夏及蠻貊胎卵暨化濕皆歸好生德惟恐一物失, nhà Tống nước ta nhân từ như trời, thần võ mà không giết, Trung Hoa và chư hầu, loài sanh bằng thai, trứng, hóa sanh và thấp sanh, đều có đức ham sống, chỉ sợ một vật mất đi).” Hay như trong Tỉnh Am Pháp Sư Ngữ Lục (省菴法師語錄, CBETA No. 1179) cũng có đoạn: “Cư ư Hoa Hạ, Lục Căn vô dạng, Tứ Đại khinh an, cụ hữu tín tâm, hạnh vô ma chướng, huống kim ngã đẳng hựu đắc xuất gia, hựu thọ cụ giới, hựu ngộ đạo tràng, hựu văn Phật pháp, hựu chiêm Xá Lợi, hựu tu sám pháp, hựu trị thiện hữu, hựu cụ thắng duyên (居於華夏六根無恙四大輕安具有信心幸無魔障況今我等又得出家又受具戒又遇道又聞佛法又瞻舍利又修懺法又值善友又具勝緣, sanh nơi Trung Hoa, sáu căn không bệnh, bốn đại nhẹ nhàng, có đủ tín tâm, may chẳng ma chướng, huống nay chúng ta lại được xuất gia, lại thọ giới pháp, lại gặp đạo tràng, lại nghe Phật pháp, lại thấy Xá Lợi, lại tu sám hối, lại gặp bạn tốt, lại đủ duyên lành).”
  4. Hòa Thượng (s: upādhyāya, p: upajjhāya, 和尚和上): chỉ bậc xuất gia đức độ cao cả; còn gọi là Hòa Xà (和闍), Hòa Xã (和社), Cốt Xã (鶻社), Ô Xã (烏社), Ô Ba Đà Da (鄔波馱耶), Ô Ba Địa Da (摀波地耶), Ưu Ba Đà Ha (優婆陀訶), Úc Ba Đệ Da Dạ (郁波第耶夜), Phật Đà (佛佗). Ý dịch là Thân Giáo Sư (), Lực Sanh (力生), Cận Tụng (近誦), Y Học (依學), Đại Chúng Chi Sư (大眾之師). Hòa Thượng là bậc thầy mô phạm của người thọ giới, cho nên các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ, v.v., đều gọi là Giới Hòa Thượng (和尚). Về sau, Hòa Thượng trở thành tôn xưng của trò đối với bậc thầy. Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch là Lực Sanh, ý chỉ rằng đệ tử nương vào thầy mà sanh đạo lực, nhưng nghĩa nầy không được lưu truyền rộng rãi. Trong giai vị Tăng Quan của Phật Giáo Nhật Bản có chức vị Hòa Thượng, Đại Hòa Thượng. Đặc biệt, vị trú trì của một chùa nào đó cũng được gọi là Oshō-sama(和尚様, Hòa Thượng Dạng), hay Oshō-san (和尚さん) mang nghĩa thông tục. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 13 cho biết rằng: “Vân hà Sa Di, Sa Di Ni xuất gia thọ giới pháp ? Bạch Y lai dục cầu xuất gia, ưng cầu nhị sư, nhất Hòa Thượng, nhất A Xà Lê; Hòa Thượng như phụ, A Xà Lê như mẫu; dĩ khí bổn sanh phụ mẫu, đương cầu xuất gia phụ mẫu. Trước Ca Sa, thế trừ tu phát, ưng lưỡng thủ tróc Hòa Thượng lưỡng túc. Hà dĩ tróc túc ? Thiên Trúc pháp dĩ tróc túc vi đệ nhất cung kính cúng dường (云何沙彌、沙彌尼出家受戒法、白衣來欲求出家、應求二師、一和上、一阿闍梨、和上如父、阿闍梨如母、以棄本生父母、當求出家父母、著袈裟、剃除鬚髮、應兩手捉和上兩足、何以捉足、天竺法以捉足爲第一恭敬供養, Thế nào là Sa Di, Sa Di Ni xuất gia thọ giới pháp ? Hàng Bạch Y đến muốn cầu xuát gia, nên cầu hai vị thầy: một là Hòa Thượng, một là A Xà Lê; Hòa Thượng như cha, A Xà Lê như mẹ; để bỏ đi cha mẹ sanh minh ra, nên cầu cha mẹ xuất gia. Mang y Ca Sa, cạo bỏ râu tóc, nên lấy hai tay nắm chặt hai chân của Hòa Thượng. Vì sao vậy ? Pháp tắc của Ấn Độ cho rằng nắm chặt chân là cung kính cúng dường số một).”

Sa Di (s: śrāmaera, p: sāmaera, 沙彌): cách xưng hô của Phật Giáo đối với người xuất gia trên 7 tuổi và chưa đủ 20 tuổi, là một trong 5 chúng đệ tử của đức Phật, chỉ cho những người đã thọ 10 giới, chưa thọ giới Cụ Túc. Âm dịch Phạn ngữ là Thất La Ma Noa Lạc Ca (室羅摩洛迦), Thất La Mạt Ni La (室羅末尼羅), Thất La Ma Noa (室羅摩); ý dịch là Cầu Tịch (求寂), Pháp Công (法公), Tức Ác (息惡), Tức Từ (息慈), Cần Sách (勤策); tức có nghĩa là dừng lại các điều ác, thực hành từ bi, tìm cầu sự yên vui, vắng lặng. Người nữ xuất gia thì gọi là Sa Di Ni (s: śrāmaerikā, p: sāmaerā, sāmaerī, 沙彌尼). Ma Ha Tăng Kỳ Luật (s: Mahāsaṅghavinaya, 摩訶僧祇律) quyển 29 dựa vào tuổi tác mà phân biệt Sa Di thành 3 hạng khác nhau: (1) Khu Ô Sa Di (驅烏沙彌, Sa Di Đuổi Quạ), tuổi trong phạm vi từ 7 đến 13, nghĩa là người có năng lực đuổi chim quạ ngoài đồng. (2) Ứng Pháp Sa Di (應法沙彌), tuổi từ 14 đến 19, tức là những vị Sa Di không bao lâu nữa có thể tham dự sinh hoạt xuất gia. (3) Danh Tự Sa Di (名字沙彌), tuổi đã quá 20 trở lên mà vẫn chưa thọ giới Cụ Túc, nhưng vẫn còn hình thức Sa Di. Giới điều vị Sa Di lãnh thọ được gọi là Cần Sách Luật Nghi (勤策律儀), gồm 10 giới: (1) Không sát sanh; (2) Không trộm cắp; (3) Không tà dâm; (4) Không vọng ngữ; (5) Không uống rượu; (6) Không nằm ngồi giường cao rộng lớn; (7) Không mang vòng hoa thơm hay dùng hương thơm xoa mình; (8) Không ca múa, hòa tấu, đi xem nghe; (9) Không ăn phi thời; (10) Không nắm giữ vàng bạc, báu vật. Như trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú (沙彌律儀要略增註, CBETA No. 1118) quyển Thượng có giải thích rằng: “Phạn ngữ Sa Di, thử vân Tức Từ, vị tức ác hành từ, tức thế nhiễm nhi từ tế chúng sanh dã; diệc vân Cần Sách, diệc vân Cầu Tịch (梵語沙彌、此云息慈、謂息惡行慈、息世染而慈濟眾生也、亦云勤策亦云求寂, tiếng Phạn Sa Di, Tàu dịch là Tức Từ, nghĩa là chấm dứt điều ác và thực hành từ bi, chấm dứt sự ô nhiễm thế tục và thương xót cứu độ chúng sanh; còn gọi là Cần Sách, còn gọi là Cầu Tịch).”